Đến Móng Cái tham dự Lễ hội Trà Cổ – Di sản văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia

Đến hẹn lại lên, Lễ hội Trà Cổ lại được người dân Trà Cổ Móng Cái náo nức chuẩn bị tổ chức, là cơ hội đoàn tụ với đồng hương tại lễ hội được công nhận là di tích văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia.

Xem nhanh

1. Truyền thuyết dẫn đến sự ra đời của Lễ hội Trà Cổ2. Các hoạt động chính của Lễ hội Trà Cổ2.1 Thời gian tổ chức Lễ hội Trà Cổ2.2 Các hoạt động trong khuôn khổ lễ hội2.3 Hội thi “Ông Voi” là điểm nhấn của Lễ hội Trà Cổ

Xem nhanh

1. Truyền thuyết dẫn đến sự ra đời của Lễ hội Trà Cổ2. Các hoạt động chính của Lễ hội Trà Cổ2.1 Thời gian tổ chức Lễ hội Trà Cổ2.2 Các hoạt động trong khuôn khổ lễ hội2.3 Hội thi “Ông Voi” là điểm nhấn của Lễ hội Trà Cổ

1Truyền thuyết dẫn đến sự ra đời của Lễ hội Trà Cổ

Đình Trà Cổ, tọa lạc tại khu Nam Thọ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh được hình thành từ thời Hậu Lê. Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, ngôi đình vẫn sừng sững, hiên ngang như một cột mốc chủ quyền, cột mốc văn hóa Việt nơi biên ải.

Đình Trà Cổ – Một trong những địa danh cổ xưa nhất tại Việt Nam

Theo sử sách, đình Trà Cổ gắn với truyền thuyết “Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn”. Theo truyền thuyết, vào năm 1461, người dân làm nghề đánh cá từ đất Đồ Sơn (thuộc Hải Phòng ngày nay) thường đi cả gia đình kiếm kế sinh nhai ở nhiều vùng biển xa, về cả miền cửa biển (thuộc Trà Cổ, Móng Cái nay). Trong một lần bão tố, mười hai gia đình đã trôi dạt vào một bán đảo hoang vu chỉ có sú vẹt và lau sậy. Không chịu nổi vất vả, sáu gia đình đã quay về quê cũ, sáu gia đình còn lại quyết tâm bám đất, xây dựng vùng quê mới. Ban đầu chỉ là sáu nếp nhà đơn sơ, dần đã trở thành xóm làng trù phú. Như nhiều làng quê khác, đình Trà Cổ ngày ấy được bà con góp công, góp của xây dựng. Sau đó, nhân dân địa phương đã về quê cũ để xin chân hương các vị thành hoàng làng về thờ tại Đình (Không Lộ, Giác Hải, Nhân Minh, Huyền Quốc, Quảng Trạch). Ngoài ra, đây cũng là nơi phối thờ của 6 vị tiên công có công khai khẩn, lập nên vùng đất Trà Cổ xưa.

Từ đó đến nay đình Trà Cổ đã trải qua nhiều lần trùng tu lớn. Trong đó lần trùng tu gần nhất là năm 2012. Ngôi đình hiện nay được xây dựng trên khu đất rộng hơn 1000m2, quay hướng Nam, kiến trúc kiểu chữ đinh, gồm 05 gian 02 trái bái đường và 03 gian hậu cung, kết cấu kiến trúc gỗ cổ truyền. Toàn bộ công trình được dựng lên bằng sự liên kết khung gỗ và liên kết với nhau bởi các chốt mộng. Ngôi đình là một kiến trúc cổ bề thế, mái lợp ngói vẩy, bốn góc đao cong vút như con thuyền rẽ sóng ra khơi. Đặc biệt các bức cốn ở vì kèo thể hiện đường nét chạm trổ chắc khỏe, tinh xảo, sống động. Đề tài phong phú gồm các mảng chạm long cuốn thủy phượng bay, hổ rình mồi bên cành hoa lá… Mỗi bức chạm là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Đây được đánh giá là một trong những ngôi đình có quy mô đồ sộ và kiến trúc độc đáo của khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.

Tại đình còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: 03 đỉnh hương đồng, 2 hạc cưỡi đầu rùa bằng gỗ sơn son thiếp vàng, 8 long ngai bằng gỗ của thời Nguyễn, 12 sắc phong chất liệu giấy…

Xem thêm: Khu di tích đền Cửa Ông hơn 700 năm tuổi ở Quảng Ninh

2Các hoạt động chính của Lễ hội Trà Cổ

2.1 Thời gian tổ chức Lễ hội Trà Cổ

Hằng năm, cứ từ ngày mùng 1 đến mùng 3 tháng 6 âm lịch, người dân Trà Cổ lại mở hội đình để tưởng nhớ công ơn Thành hoàng. Ngôi đình làng Trà Cổ không chỉ là nơi sinh hoạt tâm linh mà còn là một công trình kiến trúc độc đáo, là cột mốc văn hóa tâm linh nơi địa đầu Tổ quốc. Trải qua một thời kỳ bị gián đoạn do chiến tranh, năm 1993, lễ hội Trà Cổ được khôi phục lại và cho đến nay vẫn là một điểm nhấn văn hóa, là niềm tự hào của người dân nợi đây.

Trong lễ hội truyền thống này vẫn còn lưu giữ những phong tục độc đáo đặc trưng cho nền văn minh lúa nước sông Hồng, với những quy định ngặt nghèo về thủ tục, nhất là trong việc cử người làm ông Đám, việc chăm sóc chú ỉn chuẩn bị cho tế lễ mà mọi người vẫn gọi một cách thành kính là “Ông Voi”.

2.2 Các hoạt động trong khuôn khổ lễ hội

Thông thường, trước ngày lễ chính, vào ngày 25 tháng 5 sẽ có đoàn thuyền rước từ Trà Cổ về quê tổ Đồ Sơn. Đến ngày 30 tháng 5 thì thuyền từ Đồ Sơn quay về Trà Cổ. Và vào ngày 1 tháng 6 bắt đầu vào lễ hội, mở đầu là lễ rước Vua ra bể (còn gọi là rước vua ra miếu), với nghi thức một đội quân cầm vũ khí, cờ thần, phường bát âm, bát bửu, tiếp đến là người cầm cờ và phải là người cường tráng, trẻ đẹp và có đạo đức mới được bầu chọn từ cuối hội năm trước cùng những người khiêng kiệu.

Nghi thức rước vua mở đầu lễ hội

Sau lễ rước là cuộc thi các sản phẩm chăn nuôi, trồng trọt mà biểu thị chủ yếu là thi các chú lợn mà người ta gọi là các Ông Voi. Các Ông Voi được các cai đám và dân làng chăm sóc chu đáo từ nhiều tháng trước khi vào hội. Ngoài ra, nét độc đáo của lễ hội Trà Cổ là có hội thi làm cỗ, thi nấu ăn, ai nấu ăn giỏi cũng được cả làng biết đến. 

Lễ hội Trà Cổ vinh dự được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2020

Ngày mùng 6 là ngày kết thúc lễ hội, lúc này còn có tiết mục múa bông. Trong ngày này, người dân cầu mong trời đất, thần linh phù trợ cho đánh bắt được nhiều cá tôm, buôn bán phát đạt, chăn nuôi, trồng trọt tươi tốt, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

2.3 Hội thi “Ông Voi” là điểm nhấn của Lễ hội Trà Cổ

Hội thi “ông Voi” này là cuộc thi giữa 12 chú lợn được 12 “cai đám” nuôi và chăm sóc – đại diện cho 12 vị tiên công đã có công tìm ra Trà Cổ xưa. Theo lệ xưa, trước khi vào lễ hội, làng Trà Cổ lại họp chọn ra 12 người, gọi là “cai đám”, để chuẩn bị nuôi lợn cho lễ hội năm sau.

“Cai đám” phải là những người trung tuổi, khoẻ mạnh, biết làm ăn, có đạo đức và lối sống lành mạnh, gia đình thuận hoà, không vướng tang ma. Những “cai đám” được làng chọn cũng rất vinh dự và tự hào. Vì theo quan niệm của người xưa, gia đình nào làm tốt công việc “cai đám” thì sẽ được lộc, mạnh khỏe, ăn nên làm ra.

Từ đầu năm, mỗi “cai đám” sẽ nuôi một con lợn. Sau khi mua về nhà, chú lợn này không gọi là lợn nữa mà được gọi là “ông Voi”, được coi như linh vật trong nhà và của làng. “Ông Voi” được chăm sóc chu đáo, ăn ngủ ở 1 chuồng riêng biệt, sạch sẽ, nóng có quạt mát, ngủ được mắc màn chống muỗi. 

Chiều 30/5 âm lịch, sau lễ tế gia tiên, “ông Voi” được các “cai đám” tắm rửa sạch sẽ và cho nằm trong những chiếc cũi sơn đỏ có mái rèm che. Sau đó, 12 “ông Voi” được các “cai đám” rước ra sân đình xếp thành hai hàng để chầu thần. Các “ông Voi” được xếp theo thứ tự, Trưởng “cai đám” đứng đầu bên phải, Phó “cai đám” đứng đầu bên trái. Mỗi bên 6 ông, xếp theo hàng dọc trước cửa đình để chầu thần.

Những “Ông Voi” được chăm sóc kỹ lưỡng chuẩn bị cho lễ hội Trà Cổ

Theo tục lệ, các “ông Voi” phải chầu thần tại đình một đêm. Các “cai đám” sẽ phải túc trực ở đình, cùng ban tổ chức lo các việc cúng lễ, đèn nhang cho đến khi xong hội mới thôi. Mỗi người đàn ông chỉ được làm “cai đám” một lần trong đời, vì vậy mà ai được chọn cũng cảm thấy vinh dự và ý thức trọng trách của mình ngay từ đầu.

Sau lễ tế cáo yết thần, ban tổ chức lễ hội sẽ tiến hành chấm giải. “Ông Voi” nào có thân dài nhất, vòng cổ to, đẹp, nặng hơn cả sẽ giành giải Nhất. Ngay sau phần chấm giải, các “ông Voi” trở lại là những chú lợn bình thường, gia đình cai Đám có thể bán luôn cho thương lái ngay tại cổng đình hoặc đưa về nhà giết thịt khao họ hàng. Riêng “ông Voi” đoạt giải Nhất được giữ lại để mổ tế thần. Lễ trao thưởng cho cai đám có “ông Voi” giải cao nhất sẽ được tổ chức vào sáng ngày chính hội hôm sau.

Trong mâm lễ tế, ngoài thủ lợn không thể thiếu túm lông vai của “ông Voi”. Cúng xong, túm lông vai này được đưa ra đặt ở gốc đa cạnh sân đình Trà Cổ. Đây là một nghi thức rất thiêng liêng, quan trọng trong lễ hội đình Trà Cổ.

Xem thêm: Bãi Trà Cổ – Một trong những bãi biển đẹp nhất Hạ Long

Lễ hội Trà Cổ không những thể hiện lòng biết ơn, sự tưởng nhớ của con người đối với các vị Thành hoàng, mà còn thể hiện ý thức, trách nhiệm của người dân trong tham gia bảo vệ và xây dựng biên giới ngày càng giàu mạnh. Ngoài lễ hội Trà Cổ, khi đến du lịch Quảng Ninh, du khách còn có thể tham gia những hoạt động khác không kém phần hấp dẫn như lễ hội chùa Ba Vàng, lễ hội Carnaval Hạ Long, lễ hội Bạch Đằng,… giàu tính truyền thống, là nét đẹp trong văn hóa dân tộc Việt Nam.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *